Hiển thị các bài đăng có nhãn Khoa học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khoa học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 9 tháng 6, 2026

Tần số bao nhiêu có thể dập tắt lửa?

 

Theo các nghiên cứu, sóng âm tần số thấp, trong khoảng 50Hz – 70Hz là lựa chọn khả thi duy nhất để dập tắt đám cháy với tần số tối ưu được xác định có thể dập tắt đám cháy là 67Hz.

Theo các nghiên cứu, sóng âm tần số thấp, trong khoảng 50Hz – 70Hz là lựa chọn khả thi duy nhất để dập tắt đám cháy với tần số tối ưu được xác định có thể dập tắt đám cháy là 67Hz.


Sóng âm tần số thấp có thể dập tắt đám cháy bằng cách tạo ra các bọt khí trong nhiên liệu cháy. Các bọt khí này ngăn cản sự tiếp xúc của nhiên liệu với oxy, từ đó làm tắt ngọn lửa.

Ngoài ra, sóng âm tần số thấp cũng có thể làm vỡ các giọt nhiên liệu, khiến chúng nhỏ hơn và khó bốc cháy hơn.

Công nghệ dập lửa bằng sóng âm tần số thấp vẫn đang trong giai đoạn phát triển, nhưng nó có tiềm năng trở thành một phương pháp chữa cháy hiệu quả và an toàn hơn so với các phương pháp hiện có.


Thứ Năm, 15 tháng 8, 2024

Déjà vu

 Hiện tượng déjà vu: Cảm giác quen thuộc hay căn bệnh huyền bí?

SKĐS - Phải nói ngay rằng, ít nhiều ai cũng trải qua déjà vu, cảm giác cho rằng bản thân đã từng trải nghiệm một thứ gì trước đó. Bài viết dưới đây đề cập về hiện tượng trên dựa trên những nghiên cứu khoa học mới nhất vừa được công bố trên tạp chí Grunge.com.


Đôi nét về déjà vu


Theo Wikipedia, Déjà vu là từ tiếng Pháp, có nghĩa “đã nhìn thấy” hay còn gọi là ký ức ảo giác hoặc promnesia (chứng rối loạn trí nhớ) là ảo giác, cảm thấy quen thuộc (như đã từng thấy, từng trải qua trong trí nhớ) trong một môi cảnh mới, chưa từng biết trước đó hoặc không nhớ rõ lúc nào. Đây là trải nghiệm của một cảm giác chắc chắn rằng đã từng chứng kiến hay đã sống qua một hoàn cảnh từng xảy ra trước đây, mặc dù không thể biết chắn chắn các trường hợp linh cảm ấy đã xảy ra lúc nào. Thuật ngữ Déjà vu được đặt tên bởi một chuyên gia tâm linh học người Pháp, Émile Boirac (1851 - 1917), được ông nêu trong cuốn L’Avenir des sciences psychiques (Tương lai Ngành tâm linh học), sách ra đời khi Boirac còn là một sinh viên đại học. Déjà vu thường là một cảm giác rất quen thuộc, nhưng “ kỳ lạ và đầy bí ẩn”, xảy ra thường xuyên trong giấc mơ lẫn đời thường cả ở người lớn lẫn trẻ em.


Déjà vu đã được miêu tả trong văn học từ rất lâu, nhưng nó lại là đề tài gây đau đầu các nhà khoa học, nhất là các nhà tâm linh học hiện nay. Gần đây, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra cách để tạo cảm giác này bằng thôi miên. Từ những năm cuối thế kỷ 20, déjà vu được nghiên cứu sâu trong ngành tâm lý học và thần kinh học. Về mặt khoa học, lời giải thích chính xác nhất về déjà vu không phải là điều “nhận biết trước” được hành động hoặc là có tài “dự đoán trước”, mà là một tật dị thường của bộ nhớ giữ cho con người tạo ra ấn tượng mà ký ức “đang được nhớ lại”.


Hiện tượng déjà vuHiện tượng déjà vuHiện tượng Déjà vu có thể diễn ra cả trong đời thường lẫn trong giấc mơ


Cũng có ý kiến cho rằng trong quá trình sinh hoạt, giao tiếp hằng ngày, bộ não con người có khả năng tự sắp xếp, liên kết các sự kiện và phân tích một cách logic, từ đó tạo ra những hình ảnh, âm thanh..., có khả năng xảy ra trong tương lai và ghi vào vùng trí nhớ, điều này gần giống với phương pháp tiên tri. Khả năng tự sắp xếp và liên kết này của não người được hình thành và rèn luyện trong quá trình con người ta suy nghĩ và suy đoán có chủ ý (chẳng hạn cá cược một điều gì đó). Vì thế, khi bắt gặp một trong những sự việc mà bộ não đã phân tích đúng (có thể có một số trường hợp là sai, điều này lý giải tại sao chỉ đôi khi chúng ta mới gặp hiện tượng déjà vu) thì lúc đó chúng ta sẽ có cảm giác “hình như” đã gặp hoặc đã từng ở vào tình huống đó trong quá khứ.


Vài giả thiết và sự thật liên quan đến déjà vu

1. Déjà vu là do các giác quan đánh lừa con người?


Có một giả thuyết đặc biệt mơ hồ, rằng déjà vu là hiện tượng đơn giản, theo đó các giác quan trong cơ thể “chơi khăm” lại con người.


Thông thường, cảm giác và nhận thức của con người về thế giới không phải là rạch ròi, trong đó các giác quan đóng vai trò chủ đạo. Ví dụ, khi chúng ta đi vào một tiệm bánh lạ, ngửi thấy mùi thơm hấp dẫn của bánh mới nướng. Có lẽ nó hợp với mùi vị tương tự như đã từng được ngửi thấy trước đây, não cố gắng nhớ lại chính xác mùi vị đó, điều này có cảm giác như thể bạn đã người thấy mùi vị này trước đó. Hiện tượng trên tương tự như khi ta nghe thấy một tiếng ồn cụ thể hoặc một đoạn băng hội thoại nào đó, nó có cảm giác như ta đã được nghe trong quá khứ mà không thể nhớ lại, tất cả các hiện tượng này thuyết phục rằng chủ thể đã từng trải qua khoảnh khắc nói trên. Đó là một giả thuyết đơn giản và dễ hiểu nhất, và cũng giống như hầu hết các giả thiết khác về déjà vu, các giác quan trong cơ thể đã “chơi khăm” lại con người mà thực tế không có cách nào để kiểm tra được.


2. Déjà vu là lỗi biên mục đơn giản ?


Một giả thiết nữa lại cho rằng, các mạch bộ nhớ dài và ngắn hạn của não có thể bị sự cố khiến thủ thư của não làm việc không đúng quy trình, tạo ra lỗi biên mục đơn giản, giống như lỗi khi biên tập.


Hiện tượng déjà vuNếu não bị tổn thương, người trong cuộc rất hay gặp déjà vu


Giả thiết bạn đang đi đến dự một bữa tiệc tại một ở căn hộ sang trọng với những người hoàn toàn mới chưa hề gặp bao giờ. Tuy nhiên, khi đi vào, bạn lại tràn ngập cảm giác rằng bạn đã ở từng có thời điểm tương tự như đã xảy ra trước đây. Cách bố trí nội thất của căn phòng, số lượng nhạc công đang chơi, mọi người vui vẻ với cốc rượu trong tay... bạn sẽ bị thuyết phục như thể đã từng trải nghiệm trước đây trong quá khứ, đó chính là déjà vu đang đưa bạn nhập cuộc. Điều gì đã xảy ra ra khiến chúng ta có được cảm giác déjà vu, xin thưa đó chính là bộ não của bạn không làm tốt chức năng vốn có. Não người có một hệ thống lập ký ức khó tẩy sạch, đây là một loạt các cơ chế chuyển đổi lưu trữ, giống như hầu hết mọi thứ tồn tại trên thế giới, cũng có khi mắc lỗi. Bộ não có thể đưa lưu giữ các thông tin mới khi bạn tham gia bữa tiệc, nhưng nó lại đưa vào danh mục nhớ dài kỳ, khiến cho người trong cuộc có cảm giác rằng sự kiện này đã từng diễn ra, đôi khi trong quá khứ xa xôi.


3. Khả năng nhớ của con người không tốt


Một giả thuyết nổi bật và khá cơ bản là bộ nhớ của con người không tốt. Liên quan đến giả thiết này, trang tin Smithsonian.com đã lấy một ví dụ của giáo sư tâm lý học nhận thức người Colorado, Anne Cleary để giải thích. Giả sử, bạn đang tham gia chuyến đi đến Paris lần đầu và ghé thăm Louvre. Khi nhìn chằm chằm vào kim tự tháp thủy tinh, người ta lại có được cảm giác quen thuộc déjà vu, mặc dù trước đây bạn chưa bao giờ đến Louvre, vì sao lại có hiện tượng này? Rất có thể não bộ của bạn có thể không tìm được bộ nhớ quan trọng, điều này có thể giải thích tại sao Louvre lại quen thuộc. Có lẽ, như Cleary đã chỉ ra, nếu bạn đã xem cuốn Mật mã Da Vinci một vài tháng trước, trong đó có nói đến kim tự tháp và khi gặp trường hợp tương tự, người ta lại có cảm giác quen thuộc như một cái gì đó đã được nhìn thấy trước đây. Thực ra, bộ nhớ không tốt, không phân biệt chính xác. Một hiện tượng khác phát sinh déjà vu là do các bộ phận của não hoạt động không đồng bộ. Vùng vỏ não Rhinal cortex chịu trách nhiệm kích hoạt tính quen thuộc đôi khi cũng bị trục trặc giống như thiết bị điện tử. Nó được kích hoạt mà không thức tỉnh các vùng xử lý bộ nhớ khác cùng hoạt động. Điều đó có thể giải thích, tại sao chúng ta rất khó diễn tả cảm giác khi gặp déjà vu, nó thường là một sự quen thuộc mơ hồ, nhưng không tập trung vào một đối tượng hoặc một vật dụng cụ thể nào đó.


4. Déjà vu là biểu hiện của bệnh động kinh


Một khía cạnh ít biết, người bị động kinh cũng cảm giác cảm giác quen thuộc và thường xuyên hơn về déjà vu so với những người không có rối loạn này. Theo nghiên cứu, nhiều bệnh nhân động kinh cho hay họ có cảm giác déjà vu trước khi cơn động kinh bắt đầu. Trên thực tế, mối liên quan giữa chứng động kinh và déjà vu đã được nhắc đến từ năm 1888, mặc dù hồi đó y khoa của nhân loại còn lạc hậu, không biết cách để kiểm tra não và những gì về déjà vu còn rất sơ khai.


Cụ thể, thùy thái dương ở giữa là nơi được xem là thủ phạm, đây là một phần của bộ não liên quan đến nhận thức giác quan, tạo ngôn ngữ lời nói và kết hợp trí nhớ. Khi bị động kinh, các nơron thần kinh bị phong bế, hậu quả tạo ra một mớ các thông điệp hỗn độn được truyền đi khắp cơ thể. Déjà vu có thể là kết quả của dây thần kinh bị cắt ngang qua mặt, thủ phạm gây ra chứng động kinh và một khi có sự chồng chéo dây thần kinh cũng là lý do tạo ra déjà vu.


5. Déjà vu mãn tính là do tổn thương não


Déjà vu mãn tính là căn bệnh nghiêm trọng và cũng là hình thức chứng tỏ cơ chế thần kinh là thủ phạm “chống lưng” cho déjà vu tái phát. Trong những trường hợp cực đoan, những người bị bệnh déjà vu mãn tính thường từ chối đọc báo hay xem truyền hình, bởi họ luôn có cảm giác như đã đọc hay xem tất cả trước đó. Ngay cả hành động đi đến cửa hàng tạp hóa cũng là là nỗi cực hình với nhóm người này, vì không thể phân biệt được vật dụng nào đã mua và chưa mua. Trong những trường hợp như vậy, déjà vu đã vượt qua ngưỡng thú vị, xảy ra ngẫu nhiên và trở thành một căn bệnh đích thực. Và, giống như hầu hết các căn bệnh trong y học, nó phải có một nguyên nhân cụ thể.


Các nhà nghiên cứu đã khám phá thấy rằng những người bị bệnh déjà vu kinh niên thường bị tổn thương não, đặc biệt là những tổn thương ở vùng thái dương hoặc vùng trước mặt. Bởi mạch máu liên quan đến trí nhớ và sự quen thuộc bị tổn thương, và thường xuyên bị vô hiệu hóa, bệnh nhân thường xuyên cảm thấy déjà vu, thậm chí làm cho cuộc sống thường ngày của họ trở nên khó khăn, cơ cực hơn.


BS. BÍCH KIM


Copy từ Báo Sức khỏe & Đời sống

Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2015

Vì sao cửa sổ máy bay có 1 lỗ nhỏ?


1412340
Nếu để ý, bạn sẽ thấy cửa sổ máy bay luôn có một lỗ nhỏ bằng đầu ngón tay. Cũng giống như tất cả các bộ phận khác trên máy bay, chi tiết đặc biệt này sẽ giúp tăng độ an toàn cho hành trình của bạn.

Nếu đã từng đi máy bay, có lẽ bạn sẽ để ý thấy một lỗ nhỏ nằm cách cạnh dưới của cửa sổ khoảng vài cm. Chi tiết đặc biệt này được gọi dân dã là “lỗ thở” hoặc “lỗ chảy máu”, có nhiệm vụ cân bằng áp suất trong máy bay.
Khi nhìn kỹ vào cửa sổ của khoang hành khách trên máy bay, bạn sẽ phát hiện ra kính cửa sổ được tạo thành từ 3 lớp riêng biệt, thường được làm bằng vật liệu acrylic. Trong số này, mục đích của lớp acrylic trong cùng (thường được gọi là “lớp chống xước”) là để bảo vệ cho 2 lớp phía ngoài.
Lớp ở giữa (là lớp được đục “lỗ thở”) và lớp ngoài cùng có vai trò quan trọng hơn. Khi máy bay tăng độ cao, áp suất khí bên trong và bên ngoài máy bay đều sẽ sụt giảm, song mức độ giảm áp suất ở phía bên ngoài máy bay sẽ cao hơn rất nhiều – lý do là bởi hệ thống cân bằng áp suất bên trong máy bay sẽ giữ cho áp suất của khoang lái và khoang hành khách ở mức an toàn và dễ chịu cho con người. Trong mọi trường hợp, áp suất bên ngoài máy bay luôn thấp hơn áp suất bên trong máy bay.
Lớp acrylic ở giữa và ở ngoài cùng của cửa sổ máy bay sẽ phải chịu lực do áp suất chênh lệch gây ra. Cả 2 lớp này đều có thể chịu được lực ép của áp suất, song nhờ có “lỗ thở”, chỉ có lớp ngoài cùng phải chịu lực.
1412343
Marlowe Moncur, giám đốc công nghệ tại GKN Aerospace, một công ty đi đầu trong ngành sản xuất cửa sổ máy bay cho biết:
“Mục đích của lỗ thở nhỏ nằm trên tấm giữa là để cân bằng giữa áp lực bên trong khoang hành khách và khoảng trống nằm giữa các tấm acrylic, do đó áp lực của khoang hành khách sẽ chỉ ảnh hưởng tới tấm ngoài cùng”.
Trong trường hợp tấm acrylic ngoài cùng không thể chịu được áp lực (gần như không bao giờ xảy ra) và bị nứt vỡ, tấm giữa sẽ đóng vai trò thay thế cho tấm ngoài. Dĩ nhiên, “lỗ thở” nhỏ trên tấm giữa sẽ cho một luồng khí nhỏ đi qua, song hệ thống cân bằng áp lực của máy bay vẫn có thể dễ dàng giải quyết hiện tượng này.
Bret Jensen, một chuyên viên kỹ thuật hàng không cao cấp tại bộ phận phát triển máy bay thương mại của Boeing cho biết về một công dụng khác của “lỗ thở” nhỏ này: Nó giúp ngăn ngửa hơi ẩm và tuyết bám tụ trên cửa sổ. Điều này lý giải vì sao cửa sổ của bạn không bị mờ đặc mỗi lần máy bay đi qua các đám mây.
Trong những chuyến bay dài, một lớp tuyết mỏng có thể tích tụ trong khu vực xung quanh lỗ thở. Nhiệt độ tại độ cao của chuyến bay có thể giảm xuống tới mức -57 độ C. Hiện tượng tuyết mỏng tích tụ là do “nước ngưng tụ khi khí từ cabin tiếp xúc với bề mặt lạnh của cửa sổ”.

Thứ Sáu, 17 tháng 10, 2014

Tác động vào tiềm thức của khách hàng: sự thật hay chuyện đùa


Kinh doanh hiện đại không thể không có quảng cáo. Cuộc cạnh tranh trên thương trường càng khốc liệt, cuộc đối đầu trên quảng cáo cũng tăng nhiệt độ. Và bao giờ cũng vậy, khi tính thương mại của bất cứ việc gì bị đẩy lên quá cao, nó luôn tạo ra dị ứng từ phía công chúng. Nên nhiều lúc quảng cáo cũng bị tai “tiếng”.
Khi mật độ xuất hiện của quảng cáo quá dồn dập, quá tập trung, nó làm cho công chúng đâm “hoảng”. Và sẽ thấy xuất hiện lời xì xào: phải chăng là cố tình nhồi nhét vào đầu người tiêu dùng một cái gì đó, nhiều người trích dẫn cả câu phát biểu trơ tráo của nhà tuyên truyền cho phát-xít Đức, Goebel: “Sự thật là sự dối trá được lặp đi lặp lại nhiều lần”. Và, câu hỏi: có thể bí mật tác động vào việc quyết định mua hàng của công chúng bằng nhưng thủ thuật quảng cáo nhắm vào vô thức được không, đã bao lần làm bùng nổ các cuộc tranh cãi lẫn sức tưởng tượng của nhiều người.







Cuộc tranh luận này không mới. Trong thập niên 50, câu hỏi trên đã được Vance Packard tìm lời giải trong một cuốn sách vào hàng bestseller vào hồi đó, cuốn: Nhưng thuyết khách giấu mặt (The hidden Persuaders). Trong cuốn sách, Vance đã mô tả một thí nghiệm mà trong đó người ta cố tình gởi đi những thông điệp nhắm đến vô thức của con người, các thông điệp được sắp xếp như vô tình, vô nghĩa nhưng nó nhắm “đánh” vào phần bên dưới cái ngưỡng nhận thức của con người: nó muốn tác động vào tiềm thức. Thí nghiệm cụ thể như sau: khi thành phố đang trình chiếu rộng rãi một bộ phim nổi tiếng, thì xen vào phim người ta chiếu lập đi lập lại một thông điệp trong một khoảng khắc ngắn ngủi không tưởng nổi: 1/3000 của một giây, các câu “Eat Popcom” (ăn bắp rang) và “Drink Cola” (Uống Cola). Trong 6 tuần thí nghiệm, người ta ghi nhận sức bán bắp tăng 57%, và Cola tăng 18%.
Khi sách được công bố, dư luận đã hết sức phẫn nộ về thí nghiệm này, bởi về mặt đạo đức, anh không bao giờ được phép dùng những xảo thuật tác động vào tiềm thức để buộc tôi phải mua nhưng cái mà ý thức tôi chưa chắc đã đồng ý. Nhiều tiểu bang thông qua luật cấm các thí nghiệm này…Nhưng, sau đó người ta đã chứng minh được rằng: thí nghiệm trên bị sai. Người ta không thể lập lại được thành công như trên khi thử nghiệm với một số bộ phim khác, và sau cùng, người ta nghiệm ra rằng, thành công của thí nghiệm trên là do nó được làm trong bộ phim tên Picnic (Cuộc đi chơi dã ngoại) và sức ăn uống tăng lên bởi bộ phim có nhiều cảnh ăn uống trong một thời tiết nóng bức của những chuyến giã ngoại. Và việc tác động vào tiềm thức của công chúng đã bị nghiên cứu này bác bỏ bởi hai lí do. Một là, cái ngưỡng phân chia vùng ý thức và vô thức của mỗi người rất khác nhau nên không thể có một tác động nào có thể chi phối được mọi người cùng lúc giống nhau. Và hai là, nếu một thông điệp muốn tác động bằng cách nhìn, nhưng lại rơi vào dưới ngưỡng nhận thức thị giác, thì rõ ràng thị giác không thể cảm nhận thông tin ấy nữa, hoặc giả nếu có, thì thông điệp cũng đã bị sai hoặc méo đi rồi, người ta có thể thấy chữ “Drink Cola” thành ra “Go smoke” hay là “think jokes”…
Nhưng, nỗi háo hức lẫn ám ảnh về bí mật của nhưng xảo thuật quảng cáo nhắm vào dưới ngưỡng nhận thức ấy, xem ra cũng vẫn chưa nguôi ngoai. Gần đây nó được hâm nóng bởi hai cuốn sách, cuốn đầu có nhan đề Sự cám dỗ vô thức (Subliminal Seduction), sách còn có một tít nhỏ là: (Nhưng xảo thuật bí ẩn mà nhà quảng cáo dùng để kích thích sức tiêu thụ của bạn) và cuốn thứ hai là Việc khai thác sex trong quảng cáo (Media Sexploition). Cả hai đều của tác giả Wilson Bryan Keys. Trong các quyển sách trên, Keys cho rằng nhiều nhà quảng cáo đã cố tình bí mật đưa vào các hình ảnh quảng cáo của mình nhưng biểu tượng sex, những câu nói tục…với ý đồ tác động vào tiềm thức của người xem nhằm tăng sức mua…Và ở đây một lần nữa cuộc điều tra độc lập đã phản bác lại các lời buộc tôi trên. Tiến sị Jack Haber-stroh, giáo sư của khoa Truyền thông đại chúng thuộc Đại học Virginia Commonwealth đã tiến hành điều tra và bác bỏ nhiều lập luận của Keys, chẳng hạn như một trong những điều tố cáo của Keys, rằng chữ S-E-X đã được bí mật khắc vào hộp bánh của Ritz. Sau nhiều tìm hiểu công phu kể cả việc đến tận nơi sản xuất loại bánh này, tiến sĩ Haberstroh kết luận câu chuyện đùa dai về quảng cáo tác động vào tiềm thức bằng bốn từ: ‘thái quá, vô lý, lố bịch, và buồn cười”.
Không biết đến đây câu chuyện đã có thể hạ màn được chưa

Thứ Năm, 9 tháng 10, 2014

Độc đáo chiếc... “ghế ôm” dành cho người cô đơn


Một công ty tại Nhật Bản vừa bán ra thị trường loại ghế ngồi với thiết kế đặc biệt, cho phép mọi người có cảm giác như đang ngồi trong vòng tay của một người thân yêu nào đó của mình.

Không gì hạnh phúc hơn khi được ngồi trong vòng tay ấm áp của một người mà mình yêu quý, tuy nhiên phải lúc nào chúng ta cũng được ở cạnh người mình yêu quý. Đó là lý do tại sao một công ty tại Nhật Bản đã cho ra mắt chiếc ghế ngồi với thiết kế đặc biệt.

Chiếc ghế với tên gọi “ghế yên bình”, có thiết kế với hình dạng của một con búp bê vải cỡ lớn, sở hữu một gương mặt thân thiện và quan trọng hơn là một đôi cánh tay dài 2 bên thân ghế, có khả năng ôm và bọc quanh người ngồi bằng đôi cánh tay này, tạo thành một cái ôm trìu mến.

“Chiếc ghế này sẽ cho bạn cảm giác an toàn. Mội người đều có thể sử dụng nó, đặc biệt là những người già”, Đại diện của UniCare, công ty đã tạo ra chiếc ghế này, cho biết.

Chiếc ghế với thiết kế đôi tay dài, có thể ôm trọn người ngồi phía trước
Chiếc ghế với thiết kế đôi tay dài, có thể ôm trọn người ngồi phía trước

Hiện tại 1/4 dân số tại Nhật Bản trên 65 tuổi và con số này dự kiến sẽ tăng lên 40% trong một thập kỷ tới. Chiếc “ghế yên bình” này được ra mắt để dành cho những người già neo đơn tại Nhật Bản, những người cần đến một vòng tay che chở và bao bọc. Bên cạnh chiếc “ghế yên bình”, UniCare còn cho ra mắt “Búp bê nhịp điệu”, với kích cỡ tương đương một người thật, có tác dụng nhắc nhở người già uống thuốc hoặc đi vệ sinh.

“Chiếc ghế này có thể an ủi cho những người đang sống một mình, khi nó có thể nói chuyện và ôm ấp họ”, đại diện UniCare cho biết thêm. “Chiếc ghế cũng có thể phát ra những bản nhạc cổ, phù hợp với những người lớn tuổi và hoài cổ”.

Người ngồi vào ghế sẽ có được cảm giác như ngồi trong vòng tay của người mình yêu thương
Người ngồi vào ghế sẽ có được cảm giác như ngồi trong vòng tay của người mình yêu thương

Ngoài mục đích nhắm đến những người già neo đơn, chiếc ghế ôm này còn hữu ích cho những bệnh nhân bị bệnh về trí tuệ hoặc những người bị lo âu, sợ hãi hay giận giữ không thể kiểm soát bản thân... chiếc ghế sẽ như một dụng cụ để an ủi và giúp họ thư giãn.

Chiếc ghế đặc biệt này hiện đang được bán tại Nhật Bản với mức giá 46.000 Yên (tương đương 419USD). Unicare cho biết sẽ sớm phát triển thêm phiên bản ghế ôm đặc biệt dành cho người ngồi xe lăn. 

 T.Thủy
Theo OC/MSN

Thứ Tư, 8 tháng 10, 2014

Ba nhà khoa học Nhật đoạt giải Nobel Vật lý 2014

“Thật không thể tin được!”, Shuji Nakamura phát biểu qua màn hình video trực tuyến sau khi hay tin ông là một trong ba người đoạt giải Nobel Vật lý 2014.  
Shuji Nakamura phát biểu qua màn hình video trực tuyến sau khi hay tin ông là một trong ba người đoạt giải Nobel Vật lý 2014. Ảnh: Nobel.
Giải Nobel Vật lý 2014 vừa được trao cho ba nhà khoa học Isamu Akasaki, Hiroshi Amano và Shuji Nakamura đã “phát minh ra các diode phát ánh sáng (LED) màu xanh hiệu cho phép tạo rao các nguồn sáng trắng sáng hơn và tiết kiệm năng lượng".
Ba người chiến thắng sẽ chia nhau giải thưởng 1,1 triệu USD trong lễ trao giải chính thức vào tháng 12-2014.
Năm ngoái, giải thưởng thuộc về hai nhà khoa học cho công trình nghiên cứu lý thuyết về hạt Higgs boson.
Những người từng đoạt giải Nobel Vật lý trong quá khứ bao gồm Albert Einstein, Marie Curie và Niels Bohr.
Các diode phát ánh sáng (LED)giúp con người tiết kiệm năng lượng. Ảnh: Nobel.
Chân dung ba nhà khoa học đoạt giải Nobel Vật lý 2014. Ảnh: Nobel.
Trong buổi công bố giải chiều 7-10, giờ VN), Viện hàn lâm khoa học hoàng gia Thụy Điện cho biết các phát minh được trao giải nhờ hiệu quả từ việc “các bóng đèn LED hiện tại có tuổi thọ dài hơn và hiệu quả hơn các nguồn sáng trước đó”. 
Ban trao giải cũng đánh giá phát minh của ba nhà khoa học chỉ mới 20 năm nhưng hiện có ứng dụng rất rộng rãi, từ đèn bàn cho đến đèn chụp ảnh trên các điện thoại di động.  
"Khoảng 1/4 tiêu thụ điện toàn cầu phục vụ cho nhu cầu chiếu sáng và các bóng đèn LED đã giúp tiết kiệm các tài nguyên của trái đất” - Viện hàn lâm khoa học hoàng gia Thụy Điện loan báo.
Khoa học gia Akasaki, 85 tuổi, làm việc tại Đại học Meijo và khoa học gia Amano là giáo sư Đại học Nagoya (Nhật).
Riêng khoa học gia Nakamura sinh ra tại Nhật Bản nhưng đã mang quốc tịch Mỹ và hiện làm việc tại Đại học California, Santa Barbara.
Với phát minh ra bóng LED xanh, ba nhà khoa học đoạt giải Nobel năm nay đã tạo ra cuộc cách mạng ánh sáng mà nhiều nhà khoa học trước đó hàng thập kỷ đã thất bại.
Các bóng đèn xanh và đỏ vốn được phát minh ra từ trước nhưng vì thiếu màu xanh nên không thể tạo ra nguồn sáng trắng.
TRẦN PHƯƠNG

Chủ Nhật, 28 tháng 9, 2014

Chế tạo đèn LED từ đom đóm


Các nhà khoa học Hàn Quốc đã mô phỏng cấu trúc phát sáng ở bụng dưới của đom đóm để cải tiến thấu kính của đèn LED nhằm hạ giá thành sản phẩm.
Chế tạo đèn LED từ đom đóm
Phó Giáo sư Ki Hun Jeong và cộng sự tại Viện Khoa học - Công nghệ Tiên tiến Hàn Quốc đã sao chép cơ cấu phát sáng gồm 3 lớp dưới bụng của đom đóm để tìm cách thay thế thành phần chế tạo đèn LED khá đắt tiền hiện nay.

Ông Ki Hun Jeong nói: “Chúng tôi chế tạo thấu kính đèn LED mới mô phỏng theo cấu trúc siêu nhỏ của đèn đom đóm”.
Các nhà khoa học hy vọng một ngày nào đó, phát hiện mới này được ứng dụng cho tivi, điện thoại thông minh và các thiết bị tiên tiến khác.
Nhóm nghiên cứu cho rằng cấu trúc đèn đom đóm có thể được sao chép để tìm cách thay thế lớp chống phản xạ phủ ngoài của đèn LED, qua đó giúp giảm giá thành sản phẩm.
Đom đóm lấy nguồn ánh sáng tự nhiên để tạo ra ánh sáng dùng để thu hút bạn tình và con mồi.
Nghiên cứu được công bố chi tiết trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences.

Thứ Sáu, 11 tháng 7, 2014

Lò đốt rác phát điện của bác nông dân Việt - cty Nhật quan tâm


Thảm cảnh lò đốt rác phát điện: Người Nhật thấy "ngọc" 

Với sáng chế lò đốt có khả năng đốt triệt để rác thải ở nhiệt độ cao và dùng nhiệt năng để phát điện, đã có công ty của Nhật quan tâm.

Ông Nukihiko Nakayama (áo đen) thăm quan
Ông Nukihiko Nakayama (áo đen) thăm quan "phế tích" lò đốt rác phát điện của ông Bùi Khắc Kiên

Công ty Nhật Bản quan tâm đến công nghệ nông dân

Trong chiều ngày 7/7/2014, tại nhà của người nông dân Bùi Khắc Kiên (xã Thái Giang, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình) - chủ nhân của chiếc lò đốt nhiệt độ cao đã có sự thăm quan của một công ty Nhật Bản.
Đại diện cho công ty này là ông Nukihiko Nakayama. Ông cho biết đã làm việc tại Việt Nam từ 20 năm nay, sau khi đọc được thông tin trên báo chí về sáng chế này của nông dân Việt Nam, ngay lập tức ông cùng người bạn cũng là người phiên dịch đến tận mục sở thị công nghệ này.
Tuy nhiên, khi đến nơi, chiếc máy của ông Bùi Khắc Kiên đã bị dỡ bỏ hoàn toàn, vị giám đốc người Nhật này tỏ ra tiếc nuối. Ông Nakayama cũng lo lắng về việc một khi chính quyền đã cấm đoán, chắc chắn khả năng thành công của chiếc máy này là không thể.
Nhưng sau khi xem lại băng tư liệu về các cuộc thử nghiệm trước đó, cũng như được ông Bùi Khắc Kiên lý giải về những công nghệ của mình, vị giám đốc người Nhật Bản này tỏ ra khó hiểu về cách làm của chính quyền sở tại của Việt Nam và thêm niềm tin vào người nông dân này.

Ông Nakayama cho biết: "Trong sáng chế này cái quý nhất là lò đốt rác ở nhiệt độ cao. Khi có lò đốt rác này rồi thì nhiệt năng sinh ra có thể làm được rất nhiều ứng dụng chứ không chỉ phát điện.
Nếu quả thực ông Kiên có thể đốt rác ở nhiệt độ cao trên 1.400 độ C và làm chủ được nhiệt độ của lò thì sáng chế của ông là duy nhất trên thế giới mà người Nhật Bản, Trung Quốc, Nga, Mỹ chưa ai có thể làm được."
Nhật không làm như Việt Nam
Sau buổi làm việc hôm 7/7/2014, ông Bùi Khắc Kiên đã gửi một bản vẽ mô hình cùng những chi phí giá thành để sản xuất một mô hình như vậy tới chuyên gia người Nhật.
Và sau đó vị giám đốc này đã trở về nước để bàn bạc với nhiều bên liên quan. Ông Nakayama cho biết: "Tôi phải trở về nước để bàn bạc với các cộng sự của mình." Theo thông tin từ ông Bùi Khắc Kiên, nếu sự hợp tác giữa ông và người Nhật Bản bị chính quyền làm khó khăn thì công ty Nhật ấy sẵn sàng đưa ông sang Nhật Bản để chế tạo cho họ công nghệ đó.
Tuy nhiên, ông Kiên vẫn đang cân nhắc và mong muốn có một hợp đồng hợp tác rõ ràng, trong đó ràng buộc các điều khoản để bảo vệ quyền lợi và bản quyền cho ông. Bởi theo thông tin mới nhất mà người nông dân này nhận được thì tháng 5/2015, ông mới có chứng chỉ sở hữu trí tuệ.
Ông Bùi Khắc Kiên lý giải cho vị giám đốc người Nhật về công nghệ của mình ngay trên nóc nhà khi họ vừa kiểm tra các thiết bị mà ông Kiên để tại đây.
Ông Bùi Khắc Kiên lý giải cho vị giám đốc người Nhật về công nghệ của mình ngay trên nóc nhà khi họ vừa kiểm tra các thiết bị mà ông Kiên để tại đây.

Trao đổi với ông Nakayama, vị giám đốc này cho biết: "Từ lâu, chính phủ Nhật Bản đã khuyến khích toàn bộ các nhà khoa học, các công ty năng lượng, và toàn bộ người dân tham gia sáng tạo trong việc gia tăng nhiệt năng và sử dụng các ứng dụng của nhiệt.
Nhật Bản có nhiều cách làm để có thể đốt ở nhiệt độ cao như ông Kiên, nhưng phải sử dụng các nguyên liệu tốn kém, chưa ai có thể sử dụng các nguyên liệu từ rác mà có thể đốt được ở nhiệt độ cao như vậy."
Khi được hỏi về cách làm khoa học của người Nhật Bản, ông Nakayama cho biết: "Tại Nhật Bản, không chỉ có các chương trình hỗ trợ các nhà khoa học nghiên cứu mà có rất nhiều chương trình, cuộc thi nhằm khuyến khích sự sáng tạo của nhân dân. Mỗi sáng chế của người dân đều được một hội đồng có trách nhiệm thẩm tra tính ứng dụng và tạo điều kiện tốt nhất để họ tiếp tục phát huy sáng tạo của mình."
Có thể thấy rằng, để có một nền khoa học phát triển như hiện nay, người Nhật Bản đã có cách làm rất khác với Việt Nam. Bởi để giúp được ông Bùi Khắc Kiên đi đăng ký bản quyền, đoàn công tác của Bộ Khoa học Công nghệ cũng phải năm lần bảy lượt tới địa phương để tìm hiểu, trong khi Sở KHCN Thái Bình đã nhanh chóng cấm đoán người dân sáng chế mà không tìm hiểu cái hay, cái dở của họ, tính ứng dụng ra sao.

 

Thứ Hai, 30 tháng 6, 2014

Vì sao các cặp vợ chồng hay các cặp đôi yêu nhau lâu trông thường giống nhau?

Vì sao các cặp vợ chồng hay các cặp đôi yêu nhau lâu trông thường giống nhau?



Khi yêu, người ta sẽ dần "biến hình" cho giống nhau? (Ảnh: Inmagine)

. Không cần các nét đều phải giống, nhưng bạn có thể cảm nhận điều này rất rõ từ phong thái, cử chỉ… Bạn hãy thử quan sát các cặp đôi đang thích nhau, yêu nhau nói chuyện mà xem. Một người cười, và người khác cũng vậy; một người gật đầu hay nhướng mày, người kia cũng vậy. Khuôn mặt cũng giống như những giai điệu có thôi thúc tự nhiên để hợp, để hòa vào với nhau, những người yêu nhau có thể cố tình và cả vô thức lưu nhớ và làm theo những thói quen của nhau. Và sau một cuộc hôn nhân dài nhiều… thập kỷ, những hành động giống nhau càng nhiều, càng nhuần nhuyễn thì chuyện giống nhau kia chẳng còn gì lạ nữa cả!

Thứ Ba, 17 tháng 6, 2014

Ảo thị xoay tít kỳ lạ



Một ảo thị xoay tít khiến mỗi người quan sát nhìn thấy một sắc độ màu khác nhau và cho tới nay, vẫn chưa ai biết tại sao lại có hiện tượng đó.
Khi nhìn chăm chú vào bánh xe màu trắng và đen xoay tít trên đủ lâu, bạn có thể nhìn thấy một màu nào đó xuất hiện. Điều đặc biệt là, những người khác nhau thông báo đã quan sát được các màu khác nhau, trong khi một số nói không nhìn thấy bất kỳ cái gì.
Nhiều người quan sát ảo thị nói, họ nhìn thấy màu xanh lá cây, số khác nói nhìn thấy màu vàng và vài người nói nhìn thấy màu đỏ. Tuy nhiên, chính xác tại sao lại xảy ra hiện tượng này, vẫn là câu hỏi hóc búa đối với giới khoa học suốt nhiều thập niên qua.
Bánh xe ảo thị trên gọi là con quay Benham, đặt theo tên của nhà sản xuất đồ chơi Mỹ Charles Benham, người đã sáng tạo ra nó vào năm 1895. Con quay Benham tạo ra ảo giác về màu sắc khi các mẫu hình đen và trắng thay đổi liên tục, nhanh chóng. Khi bánh xe xoay tít, các vòng cung màu phảng phất, được gọi là màu Fechner, hiển hiện ở những khu vực khác nhau trên bề mặt bánh xe.
Tốc độ quay càng nhanh, hiệu ứng màu sắc càng rõ thấy. Việc đảo ngược chiều quay của bánh xe cũng có thể làm biến đổi sắc độ màu quan sát được.
Một giả thuyết cho lí do tại sao mọi người nhìn thấy các màu khác nhau là, các cơ quan cảm thụ trong mắt người phản ứng với tốc độ khác nhau trước màu đỏ, màu xanh lá cây và màu vàng.
Võng mạc trong mắt người bao gồm 2 loại cơ quan cảm thụ nhạy cảm với ánh sáng là tế bào hình nón và tế bào hình que. Các tế bào hình nón giữ vai trò quan trọng đối với khả năng quan sát màu và ánh sáng chói. Có 3 loại tế bào hình nón và mỗi loại nhạy cảm nhất với một bước sóng ánh sáng nhất định.
Các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Washington (Mỹ) nhận định, các màu sắc khác nhau quan sát được khi con quay Benham xoay tít, có thể là kết quả của những thay đổi xuất hiện ở võng mạc và các phần khác của hệ thống thị giác. Chẳng hạn như, các đĩa xoáy tít có thể kích hoạt các vùng lân cận võng mạc khác nhau hoặc các vùng đen và trắng của đĩa kích thích những phần khác nhau của võng mạc. Phản ứng này được cho là gây ra một dạng thay đổi trong hệ thần kinh, tạo ra màu sắc khác nhau mà chủ thể nhìn thấy.
Một giả thuyết khác lại cho rằng, các tế bào hình nón khác nhau của võng mạc duy trì sự hoạt hóa trong những khoảng thời gian khác nhau. Điều đó có nghĩa là, khi bánh xe quay, các vùng màu trắng kích hoạt cả 3 loại tế bào hình nón và sau đó các vùng màu đen làm chúng ngưng hoạt động. Trật tự này có thể gây ra sự mất cân bằng, vì các loại tế bào hình nón có thời gian phản ứng khác nhau, dẫn đến việc bộ não sản sinh ra những màu khác nhau.
Mặc dù các giả thuyết trên không lý giải hoàn toàn được ảo giác kỳ lạ, con quay Benham hiện vẫn đang được nghiên cứu để sử dụng như một công cụ chẩn đoán các bệnh về mắt.

Thứ Ba, 10 tháng 6, 2014

Lợi ích cực tốt của tinh trùng với phụ nữ

Tinh dịch của nam giới có công dụng giúp chị em tăng cường sức đề kháng, giảm đau và giảm viêm nhiễm âm đạo.
Chị em có biết có bao nhiêu “chú” tinh trùng trong mỗi lần xuất tinh của chồng? Mỗi nam giới trong cuộc đời có khoảng bao nhiêu tinh trùng?... Rất nhiều vấn đề xung quanh “cậu bé” mà không phải mẹ nào cũng biết.
Mỗi giây, mô tinh hoàn của người nam giới trưởng thành có thể sản xuất ra 300-600 tinh trùng, một ngày hai bên tinh hoàn có thể sản xuất ra hàng trăm triệu tinh trùng. Trong tinh hoàn có rất nhiều ống sinh tinh, trong đó có chứa các tế bào trung mô. Trong đời một nam giới trưởng thành, số lượng tinh trùng được sản xuất ra có thể lên tới hàng nghìn tỉ "chú", thậm chí còn nhiều hơn thế.
Những con số về tinh trùng
- Số lần xuất tinh trung bình của một nam giới: 7.200 lần.
- Lượng tinh dịch trong mỗi lần xuất tinh: 1-2 muỗng cà phê.
- Số lần xuất tinh (kể cả thủ dâm): 2.000 lần.
- Tổng lượng tinh trùng được phóng ra: 53 lít (hàng nghìn tỉ tinh trùng).
- Tốc độ phóng tinh trung bình: 45 km/ giờ.
- Tinh hoàn bên phải nặng hơn tinh hoàn bên trái: Thông thường, nam giới sẽ có hai bên tinh hoàn, phân làm bìu trái và bìu phải, có hình bầu dục, màu xám. Phần lớn tinh hoàn trái thấp hơn tinh hoàn phải 1mm. Tinh hoàn của người trưởng thành dài 3.5-4.5mm, rộng 2-3ml, dầy 1-2ml. Trọng lượng trung bình tinh hoàn trái của nam giới trưởng thành là 10.2 gam, bên phải tương đối nặng với trọng lượng trung bình là 10.7gam.
Lợi ích cực tốt của tinh trùng với phụ nữ
Số lần xuất tinh trung bình của một nam giới: 7.200 lần.
Công dụng của tinh dịch
Tinh dịch giúp khử khuẩn ở âm đạo
Thí nghiệm cho thấy, trong tinh dịch có chứa chất kháng khuẩn, có thể giết chết tụ cầu, liên cầu, phế cầu khuẩn, giúp bộ phận sinh dục nữ chống lại sự xâm lược của vi sinh vật. Người phụ nữ lâu ngày không quan hệ tình dục có nhiều khả năng bị viêm âm đạo, nội mạc tử cung, viêm vòi tử cung và nhiều bệnh khác.
“Yêu” giúp cải thiện trí nhớ
Nghiên cứu của các nhà khoa học Nhật Bản cho thấy, các cặp vợ chồng có đời sống tình dục àn toàn có thể giúp ngăn ngừa lão hóa não và thúc đẩy sự trao đổi chất, vì vậy trí nhớ cũng được cải thiện hơn.
Tinh dịch giúp giảm đau
Nghe có vẻ rất thần kỳ nhưng thực tế các nhà khoa học xác nhận rằng, tình dục có tác dụng giảm đau tương tự với thuốc aspirin. Nó có thể kích thích hệ thần kinh trung ương, tiết ra một chất hóa học gọi là polyphenols amin, giảm đau rất hiệu quả.
Tinh dịch giúp làm giảm các bệnh về da
Tuần hoàn máu dưới da kém có thể gây ra mụn trứng cá và các bệnh ngoài da khác. Quan hệ tình dục điều độ sẽ thúc đẩy tuần hoàn máu, cân bằng sự trao đổi chất, làn da sẽ mịn màng.
Tăng cường hệ thống miễn dịch
Hệ thống miễn dich của chúng ta dễ bị tổn thương với các bệnh như cảm cúm, cao huyết áp, các bệnh liên quan đến đường ruột. Tình dục có thể điều tiết cân bằng adrenaline, giúp cơ bắp co và thư giãn thường xuyên, khiến hệ miễn dịch được duy trì trong tình trạng tốt.
Lợi ích cực tốt của tinh trùng với phụ nữ
Tinh trùng của nam giới giúp ngăn ngừa viêm nhiễm âm đạo cho chị em. (ảnh minh họa)
Tăng cường sức khỏe sinh sản của phụ nữ
Người phụ nữ quan hệ tình dục đều đặn thì nồng độ estrogen cao hơn rất nhiều so với người khác, giúp tăng cường chức năng sinh lý của buồng trứng, kinh nguyệt bình thường, thời kỳ mãn kinh có thể được trì hoãn, và sẽ làm tăng chất nhầy, tránh khô âm đạo.
Chậm lão hóa
Rất nhiều người đều mong muốn có một giấc ngủ sâu, sảng khoái sau một ngày làm việc mà không được. Mất ngủ thường xuyên sẽ dẫn đến tính khí thất thường, tinh thần mệt mỏi, làm việc kém hiệu quả, nhất là đối với nữ giới. Nhưng khi có một cuộc sống tình dục hài hòa thì tinh thần hưng phấn và cơ thể được thư giãn, các cơ bắp đều được vận động, sau đó giấc ngủ ngon sẽ đến một cách tự nhiên. Đời sống tình dục càng thăng hoa hạnh phúc thì hai người sẽ càng dễ dàng rơi vào giấc ngủ sâu.
Giảm đau bụng kinh nguyệt
Nhiều phụ nữ trước khi có kinh khoảng 5 - 7 ngày bị  đầy bụng hoặc đau bụng do lượng máu lưu thông ở vùng xương chậu tăng. Việc quan hệ tình dục sẽ giúp vận động các cơ bắp, thúc đẩy lượng máu lưu thông ở vùng khung xương chậu, do đó làm giảm sự khó chịu ở bụng dưới.
Giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim
Tình dục có thể làm cho xương chậu, chân tay, các khớp, cơ bắp, cột sống hoạt động nhiều hơn để thúc đẩy tuần hoàn máu, tăng cường khả năng tim và phổi. Những người có đời sống tình dục hòa hợp thường giảm ít nhất 10% nguy cơ mắc bệnh so với người có đời sống tình dục không cân đối.

Tham vọng tái sinh “trái cấm” huyền thoại

Lấy cảm hứng từ “trái cấm” đã cám dỗ Adam và Eve ở Vườn địa đàng, một nhà nghiên cứu Mỹ muốn tạo ra phiên bản trái táo huyền thoại của riêng ông, sử dụng bách khoa toàn thư trực tuyến mở Wikipedia.
Joe Davis, 63 tuổi, họa sĩ sinh vật học đến từ phòng thí nghiệm di truyền George Church thuộc Trường Y, Đại học Harvard (Mỹ) đã nghĩ ra một công thức toán để tăng thêm các lớp dữ liệu cho ADN. Ông hiện lên kế hoạch cho thêm một phiên bản mã hóa của bách khoa toàn thư trực tuyến vào ADN của một giống táo 4.000 năm tuổi, để có được thứ quả giống “trái cấm” trong truyền thuyết kinh thánh nhất.
trai cam Tham vọng tái sinh trái cấm huyền thoại
Theo truyền thuyết trong kinh thánh, Adam và Eva đã ăn quả “hiểu thiện, biết ác” trong Vườn địa đàng, bất chấp lời răn dạy của Thượng đế. Hậu quả là họ đã đánh mất sự trong trắng, bắt đầu xa rời Chúa và bị đuổi khỏi Vườn địa đàng. (Ảnh minh họa: Word Press)
Ông Davis đặt tên cho quả táo đang tái tạo là Malus ecclesia. Trong tiếng Latin, Malus có nghĩa là “cây táo ma quỷ”, trong khi ecclesia ám chỉ nhà thờ, vừa mang ý nghĩa tôn giáo, vừa đại diện cho tên phòng thí nghiệm của ông.
Hợp tác với các nhà khoa học và toán học Dana Boyle và Madeline Prye-Ball, ông Davis đã dành nhiều năm nghiên cứu để tìm một loại táo đủ độ tuổi cho dự án. Đến cuối năm ngoái, ông đã được gửi tặng rễ và các lá của một giống táo 4.000 năm tuổi.
Tại hội thảo 30c3 ở Đức vào tháng 12/2013, ông Davis từng tuyên bố: “Tôi không thể ngừng nghĩ về toán học và ADN. Tôi đã tìm ra một cách không chỉ đưa một lớp, mà rất nhiều lớp thông tin vào một gene, giống như các con búp bê Babushka. Mỗi phân tử ADN sẽ chứa đựng 3 trang thông tin. Điều này là vì, ADN có thể được mô tả bằng 3 chữ số độc nhất vô nhị”.
Ông Davis cũng tiết lộ mong muốn ”tạo ra thứ quả có khả năng cám dỗ cả ma quỷ”.
Do kích cỡ khổng lồ của Wikipedia, ông Davis và các cộng sự chỉ chọn mã hóa 50.000 trang đầu tiên của bách khoa toàn thư trực tuyến, vốn chiếm 50% tổng số trang được viếng thăm nhiều nhất khắp website này. Số dữ liệu được sử dụng có dung lượng tương đương 350MB.
trai cam1 Tham vọng tái sinh trái cấm huyền thoại
Ông Davis đang xúc tiến dự án mã hóa thông tin của bách khoa toàn thư trực tuyến để đưa vào ADN của “trái cấm” hiện đại. (Ảnh: Corbis)
Báo New Yorker dẫn lời ông Davis cho hay, bộ gene của quả táo giống như một cuốn sách 750 triệu chữ, chỉ bao gồm 4 chữ cái mã hóa ADN là A, T,C và G (tên viết tắt của 4 loại nucleotide cấu thành ADN). Các từ ngữ được chuyển dịch thành các chữ cái này của ADN nhờ một mã toán học, tương tự như cách bảng mã Morse (dùng truyền tin trong vô tuyến điện báo) và quy tắc tốc ký ép nén từ ngữ thành một dấu hiệu đơn.
Một khi đã được mã hóa, những chữ cái này được đặt vào bên trong quả táo nhờ những vi khuẩn đang tiến hóa, để chèn hệ gene của nó qua thành tế bào. Bằng cách đưa thông tin vào các lỗ hổng của ADN, ông Davis tin rằng quá trình này sẽ không làm ảnh hưởng tới hương vị và kết cấu của quả táo.
Dự án đầu tiên, sử dụng kỹ thuật tương tự của ông Davis là đưa các tác phẩm của nhà triết học Hy Lạp Heraclitus vào các gene của một con ruồi. Trong dự án mới, quả táo Malus ecclesia còn được gọi là “trái cấm”, vì việc ăn thực vật biến đổi gene ở Mỹ đang chịu sự giám sát nghiêm ngặt của Bộ Nông nghiệp nước này.
 
Theo Vietnamnet, Daily Mail

Thứ Tư, 4 tháng 6, 2014

ÂM THANH VÀ CHÚ NGỮ


Ai cũng biết rằng có thể dùng lời nói để chữa bệnh, để làm cho tàn phế, thậm chí để sát hại. Vậy những khả năng của âm thanh là như thế nào? Phạm vi tác động của âm thanh đến con người thật đáng kinh ngạc. Pháp sư trị bệnh cho người và vật bằng cách đặt tay lên họ – laying on of hand - và ca hát – Singing – để trị bệnh .
       Ai cũng biết rằng có thể dùng lời nói để chữa bệnh, để làm cho tàn phế, thậm chí để sát hại. Vậy những khả năng của âm thanh là như thế nào? Phạm vi tác động của âm thanh đến con người thật đáng kinh ngạc.
      Những âm thanh mà tai chúng ta không tiếp nhận được từ lâu đã đi vào đời sống của con người. Và ảnh hưởng đa diện của chúng cùng với những hậu quả xa xôi chưa phải đã được nghiên cứu một cách đầy đủ. Chúng ta đang nói đến việc khảo sát siêu âm. Chúng ta đang điều trị bằng siêu âm. Với sự trợ giúp của siêu âm, người ta tiến hành tạo hình thẩm mỹ tại mỹ viện. Âm thanh được nghiên cứu từ rất lâu. Vậy thế nào là âm thanh nói chung? Âm thanh là dao động cơ học của môi trường với tần số nhất định. Âm thanh có tần số từ 0 đến 20 héc (Hz) được gọi là hạ âm. Âm thanh có tần số trên 20.000 Hz được gọi là siêu âm. Vì tai con người có thể nghe được âm thanh từ 50 Hz - 16.000 Hz cho nên việc chúng ta không nghe được hạ âm và siêu âm là một điều dễ hiểu. Song điều đó không có nghĩa là những âm thanh mà chúng ta không nghe được chẳng có tác động gì đến chúng ta
.
 


Cá heo phát ra siêu âm có tác dụng hỗ trợ chữa bệnh và giảm đau.
              Các nhà khoa học từ lâu đã phát hiện ra rằng việc bơi cùng với cá heo chữa được bệnh trầm uất. Siêu âm do cá heo phát ra là một bộ phận của hệ thống định vị âm vang ở loài vật này có tác động tốt, nó làm tăng tốc độ của các phản ứng hóa học, nó chữa bệnh và làm giảm đau.
Ở thời đại ngày nay, âm thanh được áp dụng trong rất nhiều ngành: y học, địa chất học, công nghiệp đúc thép, công nghiệp quân sự... Có rất nhiều thiết bị sử dụng âm thanh. Khoa học nghiên cứu về quá trình hình thành, lan truyền và ghi nhận sóng âm thanh được gọi là âm học.
         Ở nước Nga từ thời xa xưa, người ta đã biết rằng tiếng chuông rung đồng loạt tại nhà thờ có khả năng giết chết vi khuẩn. Trong thời kỳ có thiên tai và bệnh dịch, người ta đánh chuông liên tục.
Người Trung Quốc thời cổ đã dùng tiếng chiêng, tiếng trống để làm giảm đau lúc nhổ răng.
Ở Ai Cập thời cổ, người ta đã trị bệnh mất ngủ bằng tiếng hát của dàn hợp xướng. Ở Hy Lạp thời cổ, người ta đã dùng tiếng kèn đồng để chữa bệnh viêm rễ thần kinh (radiculite) và bệnh rối loạn thần kinh. Nhà toán học và nhà triết học cổ Hy Lạp Pythagore đã xây dựng lý thuyết về cấu tạo của vũ trụ bằng nhạc số và đã vận dụng một cách thành công những giai điệu do ông sáng tác ra để chữa "các bệnh tinh thần".
Việc điều trị bằng âm nhạc đã cho ta những kết quả nhất định. Mỗi người đều có thể kiểm tra tác động của nó.
Bạn hãy bảo đứa trẻ vẽ một hình gì đó và bạn sẽ thấy rằng theo tiếng nhạc của Mozart, nó vẽ những bức tranh tươi sáng, còn theo tiếng nhạc Rock đinh tai nhức óc, nó sẽ vẽ ma cà rồng và quái vật. Hiệu quả này từ lâu đã được thử nghiệm với đàn bò cái. Khi nghe tiếng nhạc Rock ầm ĩ nặng nề thì lượng sữa của chúng giảm hẳn và sữa hơi bị đắng. Ở châu Phi, người ta dùng nhạc Rock với âm lượng thật lớn để xua đuổi đàn voi ra khỏi vườn cây ăn trái.
         Đối với con người, tiếng ồn có cường độ cao hơn 95 đêxiben là đặc biệt có hại (độ 0 đêxiben là ngưỡng âm thanh tối thiểu con người tiếp nhận được). Trong khi đó, máy bay cất cánh phát ra âm thanh ở mức 98 đêxiben. Do chịu tác động của tiếng ồn như vậy nên các mạch máu ngoại biên co lại, nhịp tim bị rối loạn, xuất hiện chứng đau đầu, mặt tái mét, hệ thần kinh tâm lý bị hủy hoại. Tệ hại nhất là dạ dày phải "tiêu hóa" những âm thanh cực lớn. Do đó, việc thường xuyên đến vũ trường hoặc thói quen nghe nhạc mở hết công suất bằng tai nghe có thể dẫn tới bệnh loét dạ dày.
         Song sự yên tĩnh hoàn toàn cũng không kém phần nguy hiểm. Cách đây hàng nghìn năm, thậm chí đã tồn tại cách tra tấn bằng sự yên tĩnh. Phạm nhân được nhốt vào "tháp im lặng", nơi không một âm thanh nào từ bên ngoài lọt vào. Và chỉ sau mấy tháng là người tù phát điên rồi chết trong những cơn đau dữ dội. Sự khiếm khuyết âm thanh một cách hoàn toàn cũng gây nên những rối loạn trong cơ thể con người. Con người là một bộ phận của thiên nhiên và nó được nuôi dưỡng bởi thiên nhiên, bởi các âm thanh của thiên nhiên. Nếu không có âm thanh cũng như nếu không có thức ăn, nước uống và không khí thì con người sẽ không thể cầm cự được lâu. Do đó, những âm thanh của thiên nhiên cũng rất cần thiết cho chúng ta.
        Theo các nhà khoa học, con người hoàn toàn không tiếp nhận được hạ âm (có tần số dưới 17 Hz). Nhưng loài sứa, chim, hải âu, cá và nhất là loài dơi, có khả năng tiếp nhận thứ âm thanh này. Tuy nhiên, chúng ta bằng thể lực có thể cảm nhận được những dao động của hạ âm (những dao động này xuất hiện ở đại dương trong lúc có bão biển và có động đất ngầm dưới nước). Tần số ở mức 6 Hz có thể gây ra cho ta cảm giác mỏi mệt, buồn phiền và say sóng. Tần số ở mức 5 Hz làm tổn hại đến gan, ở mức 4 Hz có thể gây ra cơn điên loạn. Hạ âm với tần số 7 Hz gây nên tử vong cho con người do tim ngừng đập.
Nói chung, mỗi một cơ quan hoạt động theo một tần số hạ âm nhất định. Và nếu như phá vỡ sự điều hưởng này thì có thể chết. Tuy nhiên, ngược lại, cũng có những tần số hạ âm có thể "phục hồi" các cơ quan nội tạng bị rối loạn và giúp ta tránh được nhiều căn bệnh. Ngoài ra, chúng có khả năng "thuyết phục" con người giảm cân, tiếp thu ngoại ngữ hoặc cai thuốc lá.
        Hạ âm có thể đưa đến cho con người những cảm giác như buồn phiền, sợ hãi, ớn lạnh, lo lắng... Lọt vào vùng cộng hưởng với các nhịp sinh học của con người, hạ âm có cường độ đặc biệt cao có thể gây nên cái chết tức thì. Khi có sự trùng khớp về tần số giữa các cơ quan nội tạng và hạ âm thì các cơ quan tương ứng bắt đầu chấn động, điều này có thể đi kèm theo những cảm giác rất đau đớn.
 
Theo "Semja
Dòng chữ bí hiểm trong câu thần chú Ai Cập
Dong chu bi hiem trong cau than chu Ai Cap
Người Canaanite.
Ảnh: instruct1.cit.cornell.edu.
     Một câu thần chú nhằm xua đuổi rắn ra khỏi ngôi mộ của các ông hoàng Ai Cập, có thời đại Canaanite cách đây 1.500 năm, đã được phát hiện là loại chữ Semitic cổ nhất từ trước tới nay.
      Cụm chữ, nằm rải rác trong các dòng chữ tôn giáo viết bằng tiếng Ai Cập được tìm thấy trong căn phòng dưới lòng đất thuộc kim tự tháp ở phía nam Cairo, đã làm đau đầu các chuyên gia Ai Cập trong cả thế kỷ qua. Nó chỉ được giải mã cho đến khi người ta phát hiện ra mối liên quan với chữ Semitic.
      Vào năm 2002, một trong những nhà Ai Cập học đã gửi phần chữ khắc chưa được giãi mã cho Richard Steiner, giáo sư ngôn ngữ Semitic tại Đại học Yeshiva ở New York. Steiner phát hiện thấy dòng chữ chính là ngôn ngữ do người Canaanite sử dụng trong khoảng thời gian từ thế kỷ 25 đến 35 trước Công nguyên.
     "Đây là loại chữ cổ nhất trong ngôn ngữ Semitic", Steiner nói. Loại chữ Semitic cổ nhất được biết đến trước đó có từ thế kỷ 24 trước Công nguyên.
     "Điều này là rất quan trọng bởi vì nó có từ thiên niên kỷ thứ 3 trước Công nguyên nên đây là chữ viết thời tiền Canaanite cổ nhất và cũng là chữ Semitic cổ nhất từng được biết đến", Moshe Florentine, chuyên gia ngôn ngữ học nói.
      Việc người Ai Cập cổ sử dụng các câu thần chú chứng tỏ mối quan hệ gần gũi vào thời đó với người Canaanite. Trong khi người Ai Cập cổ coi nền văn hoá và tôn giáo của mình siêu đẳng hơn hẳn láng giềng phương bắc, họ vẫn phải làm mọi thứ để bảo vệ các xác ướp vua chúa khỏi bị những con rắn độc xâm hại.
      Vì tin rằng một số con rắn nói được tiếng Semitic của người Canaanite, nên người Ai Cập cho cả những câu thần chú bằng tiếng Semitic vào 2 mặt của quan tài nhằm xua đuổi kẻ thù.
     ""Hãy đến đây, đến nhà của mẹ", một dòng chữ Semitic có ý như mẹ của con rắn đang nói nhằm lôi nó ra khỏi mộ. Trong một dòng chữ khác, con rắn được coi như là một người tình: "Hãy quay về bên này, người tình của em".
        Dòng chữ Ai Cập và Semitic là hai phần tích hợp của câu thần chú và không thể tách rời. Vì vậy các chuyên gia Ai Cập không thể hiểu hoàn toàn các dòng chữ tâm linh cho đến khi Steiner giải mã được dòng chữ. 
Theo_VnExpress.net 
                                        
                                                                                                                                                                    
Chú ngữ trong Tôn giáo và Ngọai cảm trị liệu
       Pháp sư trị bệnh cho người và vật bằng cách đặt tay lên họ  và phát ra năng lượng âm thanh có nhịp điệu như ca hát ,nhảy múa nhằm mục đích kích hoạt dẫn thức để trị bệnh .

        Chuỗi âm thanh như :EOEOEOEOEOOE-OOHOOHOOHOOHOOHRAAGH ; Pháp sư nói bằng âm thanh không cần lời ,ngữ nghĩa vì sự rung động đã mang ý nghĩa của âm thanh rồi (ví như các nốt nhạc phát ra từ nhạc cụ).

         Âm thanh là một công cụ có tính năng  quan trọng trong việc trị bệnh , có nhiều loại âm thanh khác nhau , tuy nhiên chỉ có 3 tổ hợp và 3 trụ âm thanh cho cả những thứ từ nhỏ đến lớn nhất.

         Loại âm thanh đầu tiên được tạo ra bằng cách thổi vào một con sò biển lớn , âm thanh liên tục của nó có thể tạo ra từ miệng của ta hay bằng ống sừng , kèn  OEOEOEOEOEOE ; Âm thanh thứ nhì là âm thanh Âm - là một âm thanh vẩy vuốt : WOEW WOEW WOEW WOEW WOEW WOEW . Có một nhịp điệu tạo ảnh hưởng tức thời . Sau chót là âm thanh Dương : là những âm thanh rời  như BRRRRRR BRRRRRRRRRR , con cóc dùng miệng để tạo ra âm thanh nầy , con cóc dùng âm thanh nầy để tạo ra sự khô ráo , ấm cúng và âm thanh nầy là âm thanh của lửa .

        Ta có thể tạo sự liên lạc của 3 âm thanh nầy lại với nhau . trong tất cả những âm thanh mà ta nghe như : máy bay , chuột ,chim và người ; ta có thể biết âm thanh nào là âm thanh đầu tiên , âm thanh nào là âm thanh pha trộn . Những âm thanh cao  là một thành phần của tất cả âm thanh , giống như âm thanh đầu tiên .Âm thanh cao được tạo ra bằng đốc họng , âm thanh thấp được tạo ra bằng bụng . Có nhiều cách khác nhau để tạo ra âm thanh bằng bụng , bao tử, ngực , mũi và trán . Nhạc Ả Rập , đa số ca bằng họng mũi và trán .

         Mỗi âm thanh đều có sự liên hệ với ngũ hành . Âm thanh căn bản đầu tiên bao gồm ngũ hành : Lữa, gió , đất và nước cộng thêm linh hồn (spirit)  để tạo ra sự sống ; sự lên xuống của âm thanh Âm  thanh của nước , âm thanh của lữa liên hệ với chữ R ,nhấn mạnh đến đặc tính tan vỡ và rời rạc của nó . Những dụng cụ âm thanh khác nhau , sẽ tạo ra những âm thanh tinh linh ngũ hành khác nhau . Những nhạc cụ bằng gỗ liên quan với Thủy , nhạc cụ bằng đồng liên quan với Hỏa . Trong nghi thức của Pháp sư thường dùng con lắc ( Rattle) tượng trưng cho năng lực của lữa ; cái chuông  tượng trưng cho năng lực của không khí và âm thanh của cái trống tượng trưng cho năng lực của đất . Cách thức sử dụng nhạc cụ của một người  phân định ra loại tinh linh nào , hành nào (Element) sẽ được tạo ra . Thí dụ như đánh trống , loại tinh linh nào sẽ được tạo ra , tùy theo cái trống được đánh như thế nào . Pháp sư thổ dân da đỏ , có cái trống đánh được 3 loại âm thanh chính ,đương nhiên con người có thể dùng âm thanh của mình để tạo ra những âm thanh nầy . Có một sự hổ tương ảnh hưởng qua lại của âm thanh và tinh linh ngũ hành  như ta nghe âm thanh của nước rơi xuống ,như mưa rơi , và ta liên lạc với hành thủy , như vậy pháp sư cầu mưa sẽ ca và vổ trống để phát âm thanh như mưa rơi . Nhịp điệu,tiết tấu  (Rhythm)  rất quan trọng với âm thanh ,nhịp điệu như thùng chứa đựng , âm thanh như vậy được chứa đựng ; do đó , ta không nên phát âm mà không có nhịp điệu , cũng như ta muốn nói mà không có âm thanh vậy , sự tồn tại của nhịp điệu cần có sự hiện diện của âm thanh . Những đặc tính của âm thanh ảnh hưởng đến con người gồm có 4 loại : Âm thanh của lữa có tính mạnh mẽ phá hoại ; âm thanh của gió có tính tiêu trầm , âm thanh của đất có tính vô tư ; âm thanh của nước có tính lãnh đạm , trầm định...

        Hầu hết bệnh tật đều do ảnh hưởng của tinh thần , ta dùng âm thanh tương ứng của tứ đại có liên quan đến đặc tính tâm lý của bệnh nhân để trị liệu ; đặc tính tâm lý , trạng thái tâm lý được tạo ra cùng với âm thanh ; với một âm thanh tương ứng , ta có thể tạo ra một trạng thái tâm lý đặc thù cho một người . Trong trị liệu , ta phải dùng âm thanh để giải quyết vấn đề , để trị bệnh , ta cần phải điều chỉnh và dùng âm thanh sao cho đúng tần số với cơ thể , trạng thái tâm lý và siêu tâm lý của người đó . Vấn nạn và bệnh là một trạng thái tâm lý Ta liên lạc với năng lượng bị ứ đọng ở đó , sau đó ta dùng cùng một nhịp điệu rung động đó , mà áp dụng một âm thanh tương ứng . Đó là ta đã dùng đồng vị trị liệu  (Homeopathy) .

        Khi bệnh đã được nhận ra , ta bắt đầu dùng những nhạc cụ và một bộ chuông Tây Tạng  (Whole series of Tibetan Singing Bowl)  để bệnh nhân ngồi đối diện , khi đánh trống và tạo âm thanh – niệm chú – ta bắt đầu chú ý đến vị trí bệnh ; Dùng một loạt âm thanh có sự rung động đồng bộ với chứng bệnh , sẽ tạo một sự cộng hưởng với vị trí bệnh và từ đó sẽ tái lập lại thăng bằng cho bệnh nhân . Khi một bộ phận hay một cơ quan nào của cơ thể bị bệnh , thì hạt nhân bên trong của tế bào vẩn còn giữ được sự điều hòa và đặc tính căn bản khõe mạnh của nó , có trường hợp bệnh nhân bị ảnh hưởng của bệnh mà đi trật quỹ đạo , quay chậm hay quay sai chiều , thì ta dùng âm thanh mà giúp nó , tạo lập lại quân bình ; có khi ra lệnh bệnh nhân cùng phát âm – hoặc đọc chú nhằm để hổ trợ cho năng lực hạt nhân tái tạo lại quân bình và trở về đúng quỹ đạo của nó .
      

        Thần Chú  (Mantra) là một tập hợp âm thanh , không cần có ý nghĩa . khi đọc chú , trước tiên ta lập lại nhiều lần một chữ để ta cho nó có một ý nghĩa đặc biệt – tức là ta muốn việc gì , thì ta suy nghĩ về việc đó , và bơm nó vào chữ đang đọc chú , sau đó ta tiếp sức mạnh cho nó bằng một sự quán tưởng – tức là ta tạo một hình ảnh rõ ràng trong tâm ta có liên quan với câu chú mà ta đang đọc , hoặc bằng cách dùng một ký hiệu như hình ngũ giác (Pentagram)  hay những phù hiệu thần bí của Bắc Âu (Rune) hay những cử động sắc bén hoặc dùng ấn quyết (Mudra)  ; nếu không vừa ý , ta có thể dùng đến màu sắc , thông qua ý nghĩa , biểu tượng của màu sắc , tâm thức ta có thể nâng lên tới một cảnh giới ánh sáng có tần số rung động cao và cuối cùng đi đến ánh sáng trắng . 
    *MANTRA :
                                                                          
                     

          *PENTAGRAM :
             
              *RUNE :
      
            *MUDRA :
           

           Khi ta đã có kinh nghiệm về âm thanh , ta sẽ không cần phát  ra âm thanh nữa ,mà ta cũng có thể nghe âm thanh bên trong cùng với ý nghĩa ,hình ảnh ,màu sắc và ánh sáng . Âm thanh đi xuyên qua mọi vật ,nhưng ta không thể mới bắt đầu mà muốn đi liền tới đỉnh .

        Sự liên hệ của chú ngữ (Mantra) và con số : Sinh mạng thọ của Do Thái (Jewish Kabalah) dùng số 49 ; Tây Tạng dùng số 64 ; Chú ngữ có số 7 , đó là tứ đại và tam cực , âm dương và trung hòa ; Ý nghĩa biểu tượng của mỗi số cho ta biết phương hướng mà ta phải làm .

         Loại chuông hát (Singing bowl) của Tây Tạng và Mông Cổ , làm bằng 7 kim loại khác nhau : Vàng biểu hiệu mặt trời ; Thủy ngân biểu hiệu Thủy tinh ; Đồng biểu hiệu Kim tinh ; Sắt biểu hiệu Hỏa tinh , Nhôm biểu hiệu Mộc tinh ; Chì biểu hiệu Thổ tinh .

         Mổi kim loại trên có 7 âm thanh khác nhau ; bất cứ loại chuông hát lớn nhỏ nào cũng có tất cả là 49 loại âm thanh khác nhau ; ta có thể nghe âm thanh của chuông hát từ đàng xa , ta có thể nếm âm thanh bằng cách đụng lưỡi ta vào vành chuông , sẽ cho ta có cảm giác rung động toàn thân ; từ đó nó làm thay đổi độ nhạy cảm của ta , về sau ta chỉ nhìn hoặc nghỉ đến chuông hát , là ta nghe thấy âm thanh của chuông . Khi ta ca , phát âm , đọc chú , là ta cảm thấy sự hiện diện của chuông hát . Ở cảnh giới cao , ta có cảm tưởng ta là một âm thanh và ta hòa đồng cùng vũ trụ ; từ đó ta có thể liên lạc với tất cả mọi vật , vì mọi vật đều có 3 thể : Thể xác ,Thể Hào Quang (Năng lượng) và Thể Âm thanh .

         Âm thanh có thể liên lạc với 7 thể tâm thức của con người ; khi ta ngồi hay nằm , ta hãy buông thả thư thái , để tâm ta đi vào trạng thái nữa thức tĩnh , xong ta nên thực tập nghe âm thanh , từ nghe âm thanh đến nghe sự yên lặng , - âm thanh không âm thanh cũng là một loại âm thanh còn gọi là âm thanh trắng (White Noise) , từ sự nghe âm thanh yên lặng đến nghe sự yên lặng trong tâm ta (âm thanh bên trong cơ thể của ta) .

        Âm thanh bí mật (Svaha) hay là âm thanh cao (Toning) , thường được dùng trong trị bệnh , Nghi lễ(Ritual) hay dùng trong nghi thức (Ceremonies) .

       Tần số rung động thấp nhất của cơ thể con người là 8 Hertz , gần với sự rung động của trái đất là 7.83 Hertz . Những thầy thuốc , có tài thường tự điều chỉnh tần số rung động của cơ thể họ cho phù hợp với tần số rung động của trái đất .

       Âm thanh là một trong ba sự sáng tạo của vũ trụ và là một hình thức của sự trị liệu . Âm thanh liên hệ với luân xa thứ 5 ở lổ hỏm của cổ . Thiên nhỉ thông – Clairaudience , là một hình thức trực giác của âm thanh . Ánh sáng lên hệ đến luân xa thứ 6 , thường gọi là con mắt thứ 3 . Luân xa tim là vị trí của năng lực (Prana) . Năng lực của luân xa 5 là sinh mạng của tinh thần và sức khoẻ của ta .

       Sự tụng niệm Chú ngữ , giúp ta di chuyển những sự đau buồn , biểu hiện sự an lạc ,miễn trừ , phòng chỉ sự nguy hiểm , giúp ta tập trung dễ dàng khi thiền , làm thân tâm ta được thăng bằng hài hòa và những lợi ích khác .

        Nhịp trống của thổ dân làm khai hoạt toàn bộ hệ thống luân xa ,trung tâm lực của cơ thể ; nhịp trống di chuyển từ xương cùng và cổ họng trước , sau đó đi đến chân và tim , sau đó trở về luân xa ở xương cùng và 5 ở cổ họng sau đó tiến đến sự liên kết của luân xa 1,4 và 6 .

      Tất cả âm nhạc đều có cao độ ,nhịp điệu ,độ cao,thấp,nhanh hay chậm ,sự rung động cao sẽ tạo nên âm thanh có pitch cao ; nhịp điệu, là khoảng thời gian mà độ cao - pitch , đang rung động . mỗi độ cao (pitch) , là một âm (note) , sự kéo dài của một âm , là một nhịp (Rhythm value) , như note trắng có 4 nhịp .

       Âm thanh riêng (Toning) hay âm sắc, và âm thanh bội (Overtones) , là hai kỷ thuật trị liệu bí mật , được căn cứ vào sự rung động của âm thanh . Cần tập cho nhiều hai cách trên để được hoàn hảo . Nó sẽ mang năng lực đến cho ta và người được ta trị liệu . Sự tụng đọc chú ngữ phối hợp với Âm thanh riêng (Toning) , trong đạo Hồi giáo ,yêu cầu người trong đạo nghe mổi ngày 5 lần .Bộ tộc  da đỏ và những bộ lạc khác đã dùng hình thức ca nhạc nhằm thể hiện hiệu ứng âm thanh theo 2  kỹ thuật nầy .

       Âm thanh MMMM theo huyền bí học Ấn Độ , có thể mang năng lực đến cho não , kích thích tuyến Tùng Quả ,và tuyến nội tiết của luân xa thứ 6 ,được khai hoạt và khuếch đại khả năngt trực giác ; âm thanh MMMM tạo sự rung động trong đầu và làm khoẻ thính giác, có thề làm khai hoạt thiên nhỉ thông .
             

       
Sự tụng đọc chú ngữ (Chanting) , là sự phối hợp của Toning và Overtones ,cùng sự lập lại của những âm nầy , để đạt được sự an định của tâm thân ,ngoài ta tụng chú để khai thông và làm sạch các luân xa .

        Khoa học huyền bí của âm thanh và chú ngữ cần nên quan tâm, nó có thể được dùng để giúp người giúp đời , cũng như nó có thể dùng trong chiến tranh hay chính trị , để tiêu diệt sinh mạng của con người một cách dễ dàng (trù ếm). Các hành giả tu tập về pháp môn nầy cần tìm hiểu thông suốt , thâm cứu và nắm chắc những nguyên tắc cùng phương pháp vi diệu của nó , hầu vận dụng nó một cách tốt trên con đường hành đạo .

Thứ Ba, 3 tháng 6, 2014

Thủ thuật "đánh lừa não bộ" bằng hiệu ứng âm thanh


Ảo giác cao độ, từ ngữ "ma", ảo giác biến lời nói thành bài hát... là những cách độc đáo mà thính giác sử dụng để "hack" não bộ.

Não bộ của con người có thể mang những năng lực rất kì diệu nhưng cũng có thể dễ dàng bị đánh lừa. Ngày nay các nhà khoa học đã khám phá ra rất nhiều loại ảo ảnh thính giác mà dựa vào đó bộ óc cho người cho rằng nó đang nghe thấy thứ gì đó mà thực sự thứ đó không hề tồn tại. 

Không những vậy, nhờ có sự "dễ đánh lừa" này con người chúng ta có thể sáng tạo và cảm thụ âm nhạc - một thứ không thể thiếu trong đời sống tinh thần của thế giới loài người.

1. Ảo giác cao độ (Scale illusion)

Ảo giác cao độ là một hiện tượng ảo ảnh thính giác được khám phá ra bởi Diana Deutsch vào năm 1973. Thí nghiệm của Deutsch được thực hiện như sau:

Đầu tiên, bạn cần đảm bảo chắc chắn, bạn đang nghe tai nghe, âm thanh không thoát ra loa ngoài và âm lượng của tai nghe bên trái và bên phải như nhau. Giờ thì bạn hãy nghe đoạn nhạc sau.


Sau khi nghe xong đoạn nhạc, bạn xác định xem tai bên nào nghe những nốt cao. Tiếp tục đổi vị trí tai phone và bật đoạn nhạc đó lại lần nữa. Lần này bạn tiếp tục xác định xem tai nào nghe âm cao.

Ảo ảnh thang đo sẽ khiến cho tai chúng ta nghe thấy những giai điệu như ở khuông nhạc (c). Giai điệu này là sự kết hợp giữa tông cao nghe được ở tai này với tông thấp nghe được ở tai kia. Khi tai nghe bị đảo ngược, tai nào đã được nghe âm cao sẽ tiếp tục nghe những âm cao đó, tương tự với bên tai đã được nghe âm thấp.

Điều này đồng nghĩa, những người thuận tay phải thường nghe thấy những nốt cao bên tay phải và nốt thấp bên tai trái nhưng những người thuận tay trái thì có nhiều phản ứng khác nhau.

Đối với những người thường nghe thấy tông cao bên tai phải, kể cả khi tông cao đó được phát ra từ bên trái, ảo giác này vẫn khiến cho họ tự nhận thức rằng nó xuất hiện ở bên phải.


Tại sao lại có hiện tượng này xảy ra? Trong cuộc sống hàng ngày, âm thanh có âm vực giống nhau thường phát ra từ những nguồn giống nhau và âm vực khác nhau bắt nguồn từ những thứ khác nhau. 

Giai điệu trên được hình thành từ một nguồn nhưng phát ra cả âm cao lẫn âm thấp. Vì vậy não bộ của chúng ta sẽ tự sắp xếp lại các âm theo ấn định của nó mặc dù điều đó không hề đúng với thực tế đang diễn ra. Đây là sự suy luận một cách vô thức mà nhờ đó âm nhạc của loài người được tạo ra.

2. Từ ngữ ma - "Phantom words"

Hầu hết mọi người thường nhìn một vật và liên tưởng ngay với những gì gần gũi với mình. Đây cũng là hiện tượng xảy ra khi chúng ta nghe những từ ngữ ma “phantom words”.

Khi nghe một bản radio, những từ và cụm từ chúng ta “bắt” được không chỉ bị ảnh hưởng bởi thứ âm thanh chạm đến tai mà còn bởi vốn kiến thức, niềm tin và sự kì vọng ở mỗi người.

Để có được hiệu quả tốt nhất, các bạn hãy chọn một khoảng thời gian mình không bị làm phiền, ngồi trước hai chiếc loa, một ở bên trái và một ở bên phải có âm lượng như nhau. 

Trong chuỗi “phantom words”, mỗi đoạn ghi âm đều có chứa hai từ, hoặc một từ có hai âm tiết được lặp đi lặp lại. Các chuỗi giống nhau được phát qua cả hai loa, nhưng khi âm đầu tiên được phát ra từ loa bên trái thì âm thứ hai sẽ được phát ra từ loa phải và ngược lại. 

Bởi âm thanh được trộn lẫn từ cả hai bên loa trước khi chạm đến tai chúng ta nên mỗi người thường sẽ kết hợp trong đầu những âm thanh khác nhau.


Thông thường ban đầu bạn sẽ nghe thấy một mớ những âm thanh lộn xộn vô nghĩa nhưng sau một lúc các từ ngữ sẽ đột nhiên xuất hiện. Hãy viết ra những từ ngữ mà bạn nghe được từ bên loa trái, loa phải hoặc cả hai. 

Nếu tiếng anh là ngôn ngữ thứ hai của bạn, bạn có thể sẽ nghe thấy những từ thuộc tiếng mẹ đẻ của mình. Trong bài giảng của mình tại trường đại học, Diana Deutsch đã bật cho sinh viên trong lớp nghe một chuỗi “phantom words”. 

Các sinh viên này đến từ rất nhiều quốc gia khác nhau và mặc dù Diana đã khẳng định chắc chắn, trong đoạn ghi âm không hề có ngôn ngữ nước ngoài nhưng bà vẫn nhận được khá nhiều báo cáo về việc họ nghe thấy tiếng Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam hay Tây Ban Nha, Ý, Pháp, Đức và Nga.

Qua đây, tác giả nghiên cứu cho biết, con người thường nghe thấy những từ ngữ phản ánh những gì tồn tại trong trí óc của họ. Những người đang thực hiện chế độ ăn kiêng có thể bị ám ảnh bởi những từ như “tôi đói”, “béo quá”, hay là “thịt”… 

Còn các sinh viên đang bị stress khi gần đến kì thi có thể “bắt” được những từ như “tôi mệt”, “không có thời gian”... Và đặc biệt các sinh viên nữ thường hay viết ra từ “love” còn sinh viên nam thì có xu hướng nghe thấy các từ về tình dục.

3. Ảo giác biến lời nói thành tiếng hát (Speech to Song Illusion)

Loại ảo giác này được Deutsch phát hiện ra vào năm 1995 khi bà đang chỉnh sửa lại âm thanh trong CD của mình. Bà bật đi bật lại một cụm từ trong nhiều lần và sau đó nó giống như là tiếng hát hơn là một câu nói. 

Bây giờ bạn hãy nghe đoạn âm thanh sau. Ban đầu nó có thể chỉ là một câu nói bình thường nhưng khi bạn nghe đi nghe lại, nó đột nhiên giống như một bài hát.


Trong thí nghiệm đầu tiên của mình, Diana chia đối tượng thành 3 nhóm và tiến hành trong những điều kiện khác nhau. Các đối tượng sẽ được nghe toàn bộ câu và một cụm từ trong đó được lặp lại 10 lần. 

Giữa mỗi lần nhắc lại họ sẽ chấm theo một thang điểm liệu những gì họ nghe được hoàn toàn là lời nói - giống lời nói - vừa giống lời nói vừa giống câu hát - giống câu hát - hay hoàn toàn là một câu hát.

Với nhóm người nghe câu nói lặp lại giống như bản gốc, nhận thức của họ đều chuyển dần từ việc đang nghe lời nói thành câu hát. Tuy nhiên với những đối tượng được nghe câu nói có chỉnh sửa chút ít về cao độ thì kết quả đưa ra nghiêng về phần câu nói và có xu hướng hơi giống giọng hát. Còn nhóm cuối cùng được yêu cầu nghe câu nói bị đảo lộn từ đưa ra kết luận - những điều họ nghe thấy là câu hát. 

Do đó, các chuyên gia kết luận, để có được ảo giác chuyển đổi này, cụm từ cần được nhắc đi nhắc lại một cách chính xác, không được chỉnh sửa âm vực cũng như không được đảo lộn thứ tự các từ với nhau.


Nói tóm lại, loại ảo giác này đã và đang được các nhà triết học, nhạc sĩ tranh luận trong nhiều thế kỷ nhưng phải có một mối liên kết mạnh mẽ nào đó tồn tại giữa lời nói, âm nhạc. 

Chúng ta chỉ mới đang bắt đầu xác định chu trình thần kinh nào chịu trách nhiệm về thứ nhận thức này. Tuy nhiên, những nghiên cứu mới đây chỉ ra, cụm từ được nghe dưới hình thức câu nói hay câu hát đều không có bất kì yếu tố vật lý nào đặc trưng phân biệt điều đó. 

Chỉ là cho dù chúng có chung đầu vào nhưng quá trình xử lý của các mạch thần kinh khác nhau sẽ cho ra những sản phẩm khác nhau. Ảo giác này là một ví dụ nổi bật của sự tái cấu trúc nhận thức rất nhanh chóng ở con người và là một hình thái đặc biệt cho thấy sự biến đổi linh hoạt trong ngắn hạn của hệ thống thần kinh thính giác.

* Bài viết sử dụng tư liệu tham khảo từ các nguồn: Listverse, Deutsch, Livescience..